TONG KẾT 5 NĂM CHUYÊN ĐỀ LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

1. Công tác quản lý, chỉ đạo:

a. Các căn cứ xây dựng ban hanh kế hoạch thực hiện:

- Căn cứ vào kế hoạch số 289/KH-SGDĐT ngày 24/02/2017 của sở GD-ĐT Vĩnh Long; Kế hoạch số: 98/KH-PGDĐT ngày 16/3/2017 của phòng GD-ĐT Trà Ôn, kế hoạch triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 – 2020.

- Nhà trường xây dựng kế hoạch số: 41a/KH-TrMMTT, ngày 28/03/2017 kế hoạch triển khai chuyên đề “ Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai trong 100% CBGV-NV thực hiện.

- Hàng năm, Nhà trường lồng ghép kế hoạch thực hiện chuyên đề “Trường MN lấy trẻ làm trung tâm” và chuyên đề GDPTVĐ vào kế hoạch năm học và để ra chỉ tiêu cụ thể: 100% các lớp tiếp tục nâng cao chất lượng thực hiện Chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” và “Nâng cao chuyên đề GDPTVĐ”. Đồng thời, chỉ đạo bộ phận chuyên môn, các tổ khối chuyên môn, giáo viên thực hiện cụ thể hàng tháng.

- Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho CBGV có nội dung lồng ghép chuyên đề thực hiện trong năm học (bồi dưỡng ở nội dung 2).

b. Công tác kiểm tra:

- Sở giáo dục: Trường được chọn thí điểm chuyên đề cấp Tỉnh và Tổ chức thí điểm tại trường vào tháng 11 năm 2018.

- Phòng GD-ĐT: Kiểm tra chuyên đề hàng năm (mỗi năm học 1 lần, 4 cuộc), được đánh giá kết luận tốt qua các lần kiểm tra.

- Ngoài ra phòng GD-ĐT chọn trường thí điểm để tổ chức chuyên đề tại trường theo cụm được 2 cuộc (năm học 2018-2019 và năm học 2019-2020) để giao lưu các trường trao đổi, chia sẻ, học tập.

- Nhà trường có xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chuyên đề 100% giáo viên lồng ghép vào kế hoạch kiểm tra nội bộ, nội dung kiểm tra bao gồm: xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, hoạt động sư phạm, đột xuất, phỏng vấn các tiêu chí xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, kiểm tra chuyên đề ở các lĩnh vực, lớp ghép, hồ sơ giáo viên và tập trung chủ yếu vào những khó khăn bất cập từ giáo viên.

** Thống kê công tác kiểm tra chuyên đề giai đoạn 2016-2020:

- Năm học 2016-2017:wrap:simple">- Đầu năm, trường tiến hành rà soát danh mục đồ dùng của lớp để có kế hoạch mua sắm, bổ sung kịp thời theo Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu đã ban hành (Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/2/2010) và Thông tư số 34/2013 ngày 17 tháng 9 năm 2013. Chỉ đạo 100% nhóm – lớp thực hiện tốt việc sử dụng và bảo quản ĐDĐC, thiết bị dạy học;

- 100% giáo viên sưu tầm nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi 5 loại/ chủ đề, đồ dùng thay thế theo Thông tư 02/TT.BGD-ĐT (có loại 595 ĐDĐC giáo viên tự làm). Các lớp trang bị tốt về môi trường CSVC theo quan điểm GDLTLTT;

- Sân chơi có trên 20 loại ĐCNT (Đồ chơi được cấp: nhà banh, thú nhún, cầu thăng bằng, đu quay, xích đu,…. và đồ chơi do GV phối hợp với phụ huynh tự làm: Cầu tre, nhà chồi, bập bênh, cổng chui, ném vòng, …);

- Hoàn thành công trình sửa chữa nhỏ 1 số thiết bị hư hỏng, làm khu chợ quê, vận động phụ huynh hỗ trợ 8 chiếc xe đạp cho trẻ chơi mô hình sa bàn giao thông tại điểm chính. Thực hiện công tác sửa chữa, nâng cấp phòng học, nhà vệ sinh, hệ thống điện nước với số tiền: 11.000.000đồng, từ nguồn ngân sách phòng GD cấp.

- Vận động phụ huynh hợp tác hỗ trợ chuyên đề cho trường: 40 bánh xe tải, 50 bánh xe honđa, 5 cây tre, cây kiểng để trồng xung quanh sân trường, rau, củ, quả để trẻ chơi khu chợ quê, nguyên vật liệu: vỏ hộp nhựa, lon pepsi, hộp giấy, vải, ni long, cá, bồ câu và ngày công lao động.

- Nhà trường trang bị ĐDDH, đồ chơi từ nguồn ngân sách với số tiền: 154.360.000đồng, giáo viên vận động từ phụ huynh: 969.000đồng. Cài đặt phần mềm kissmard cho trẻ ứng dụng CNTT với số tiền: 22.000.000 đồng.

** Năm học 2018-2019:

- Nhà trường có xây dựng kế hoạch bổ sung, trang bị đồ dùng đồ chơi và mỗi lớp đều có kế hoạch tự làm đồ dùng đồ chơi theo chủ đề, đồ dùng thay thế theo Thông tư 02/TT-BGDĐT. 100% giáo viên trong tổ làm đồ dùng, đồ chơi theo chủ đề (5 loại/chủ đề và thực hiện đồng bộ trong 9 tháng học, tổng cộng 585 loại/năm học/13 nhóm – lớp )

- Trang cấp từ ngân sách Huyện: Trang bị đồ chơi cho trẻ nhà trẻ: 99.380.000 đồng

- Ngân sách trang bị từ nguồn hoạt động phí của đơn vị

+ Sữa chữa nhà lưới sân bóng: 3.200.000 đồng

+ Trang bị 4 tivi: 26.000.000 đồng

+ Bóng tập yoga: 10 quả: 4.500.000 đồng

+ Lắp đặt cổng thông tin điện tử để nâng cao công nghệ thông tin với số tiền 1.500.000 đồng.

- Về thiết bị dạy học (từ nguồn học phí của trường): Làm đồ dùng ngoài trời: 7.500.000 đồng; mua sách, phục vụ công tác chuyên môn: 4.060.000 đồng.

** Năm học 2019-2020:

- 100% nhóm – lớp bố trí các khu chơi cụ thể rõ ràng, phân khu vực chơi đảm bào cho trẻ hoạt động dễ dàng, tích cực, trang bị 01 số đồ dùng đồ chơi phát huy tính tích cực của trẻ theo quan điểm “giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”, chuyên đề nâng cao chất lượng GDPT vận động

- Thực hiện kịp thời việc tham mưu sửa chữa, cải tạo CSVC, đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ:

  • Về trang thiết bị (từ nguồn hoạt động phí của đơn vị) năm học 2019-2020:

+ Thiết bị đồ dùng mầm non: 92,402,000 đồng

+ Máy tính cho phòng máy (4 cái): 34,760,000 đồng

- Về thiết bị dạy học (từ nguồn học phí của trường): Trang trí và sơn lại các mãng tường, các góc chơi trên sân trường: 3,498,000 đồng; Làm cửa rào, mái che khu cát nước, kệ để chậu hoa: 3.950.151 đồng.

- Tổng tiền quy ra từ hiện vật, nguyên vật liệu để phục vụ công tác giảng dạy và ngày công lao động qua 5 năm là 150.491.000 đồng.

3. Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:

* Nội dung bồi dưỡng:

- Tập trung chủ yếu vào 5 tiêu chí: Hướng dẫn giáo viên xây dựng Môi trường giáo dục; Xây dựng kế hoạch giáo dục; Tổ chức hoạt động giáo dục; Đánh giá sự phát triển của trẻ; Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ và cộng đồng trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

- Hướng dẫn tổ chức hoạt động chơi cho trẻ (chơi, hoạt động ở các góc; chơi ngoài trời; chơi, hoạt động theo ý thích)

- Thực hành các hoạt động nâng cao chất lượng chuyên đề theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại trường, Tổ chức bồi dưỡng giáo viên qua cách soạn giảng, tổ chức thực hành trãi nghiệm qua các hoạt động hàng ngày.

* Hình thức bồi dưỡng:

- Bồi dưỡng tập trung tại trường, nhóm, tổ, sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề trường,... CBGV tự bồi dưỡng qua mạng, internet,..

- Phân công giáo viên cốt cán, ban giám hiệu tham gia hội giảng cấp Tỉnh (Vũng Liêm, Bình Minh, Trà Ôn), Hội giảng huyện (Tích Thiện, Ánh Dương, Hòa Bình), chuyên đề cụm trong huyện (Vĩnh Xuân, Hựu Thành, Trà Côn, Phú Thành, Lục Sĩ Thành,...)

4. Tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề:

Hàng năm, trường cử BGH, tổ khối chuyên môn, giáo viên cốt cát tham gia các lớp bồi dưỡng của Sở, Phòng qua công tác BDTX hàng năm, qua việc tổ chức hội thảo thí điểm cấp Tỉnh, cấp Huyện và tại đơn vị.

- Cấp tỉnh: 4 cuộc tập huấn – bồi dưỡng, 4 cuộc tham gia hội giảng- hội thảo, 01 cuộc tổng kết – khen thưởng 02 năm thực hiện chuyên đề.

- Cấp huyện: 4 cuộc bồi dưỡng, 4 cuộc hội giảng- hội thảo, 9 cuộc hội giảng cụm và các cuộc bồi dưỡng dành cho tổ nghiệp vụ huyện (1 năm 2 lân)

5. Tổ chức Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong cơ sở giáo dục mầm non” (LTLTT)

- Thực hiện kế hoạch của Sở GD, phòng GD về kế hoạch tổ chức cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong các cơ sở giáo dục mầm non”. Nhà trường tiến hành xây dựng kế hoạch, triển khai trong hội đồng sư phạm và tổ chức thành công hội thi "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâmcó 100% CBGV tham dự và 100% trẻ được tham gia cuộc thi vào tháng 01 năm 2018.

- Nội dung: Cuộc thi gồm 3 phần:

+ Phần 1: Cảm nhận của trẻ khi tham quan sân trường;

+ Phần 2: Chơi các trò chơi trên sân trường (dân gian, có luật, trò chơi sáng tạo,..);

+ Phần 3: Tài năng của bé (biểu diễn văn nghệ, thời trang, tạo hình, vẽ, nặn, lắp ghép ).

- Hình thức: Trẻ thể hiện 3 phần thi theo yêu cầu, mỗi lớp là đội thi, đối tượng tham gia: tất cả trẻ đang học tại trường (trẻ lớp mầm, chồi, lá). Sau khi bình chọn kết quả cuộc thi, lớp nào đạt giải nhất thì tham gia cấp huyện.

- Kết quả đạt được:

+ Nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức cuộc thi và triển khai kịp thời trong đơn vị; Giáo viên chấp hành tốt theo kế hoạch của trường, thực hiện việc rèn luyện cho trẻ tham gia tốt cuộc thi theo yêu cầu;

+ Có 12/12 lớp tham gia, trẻ linh hoạt, sáng tạo, tích cực tham gia cuộc thi, trẻ tạo ra rất nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú;...

+ Phụ huynh hưởng ứng cùng với nhà trường trong ngày diễn ra cuộc thi, ủng hộ nguyên vật liệu cho trẻ tạo ra sản phẩm, ban chấp hành hội vận động phụ huynh hỗ trợ kinh phí phát thưởng cho hội thi với số tiền: 1.000.000 đồng.

- Tham gia cấp huyện, tỉnh: Tham gia cấp huyện đạt giải nhất, và được chọn tham gia hội thi cấp Tỉnh đạt giải khuyến khích.

** Ngoài ra nhà trường đã tổ chức và tham gia các cuộc thi hàng năm do phòng GD-ĐT tổ chức với quan điểm “Lấy trẻ làm trung tâm” như:

- Tham gia hội thi cấp huyện “Bé khỏe -bé khéo tay” đạt giải phong cách của trẻ. Hội thi “ Liên hoan tiếng hát dân ca” cấp Tỉnh đạt giải A. Trường tổ chức hội thi cấp trường có 12 đội tham dự với số trẻ 60 trẻ và 24 giáo viên tham gia.

- Tổ chức cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” cấp trường có 100% GV và 100% trẻ tham gia. Trường tổ chức hội thi “Cô năng động- Bé tài năng” có 6 đội tham dự với tổng số 48 trẻ và giáo viên tham dự.

- Tham gia hội thi “Liên hoan tiếng hát dân ca” cấp tỉnh giải khuyến khích; Giải nhất+ giải khuyến khích và giải nhì toàn đoàn hội thi “Cô năng động – Bé tài năng” cấp huyện có 3 trẻ và 3 giáo viên tham dự.

- Ngoài ra trường tổ chức “Ngày hội thể dục thể thao”, ngày hội dinh dưỡng, ngày hội ẩm thực dân gian, lễ hội trung thu và giáo viên tổ chức phong trào văn nghệ tại nhóm lớp có 100% trẻ tham dự. Tổ chức cho trẻ tham quan vườn cây ăn quả, cánh đống lúa, chùa Quan Âm, Trường tiểu học cho các khối lớp Chồi- lá.

6. Kết quả triển khai chuyên đề ở các cơ sở GDMN

- Năm học 2016-2017: mở chuyên đề trường 2 lần có 4 giáo viên dạy, có 1 giáo viên tham gia dạy chuyên đề cụm Huyện (MN Thới Hòa).

- Năm học 2017-2018: Tổ chức hội giảng cấp tỉnh: Trường có 4 giáo viên tham gia dạy và được đánh giá tốt 4/4, đạt 100% ( nhà trẻ 2 hoạt động, mẫu giáo 2 hoạt động, gồm: Cô Lê Ngọc Thuận, Cô Nguyễn Thị Mộng Kha, Cô Trịnh Thị Hằng Ny, Cô Đặng Ngọc Phương Thanh). Có các huyện cùng tham dự: Tam Bình, Mang Thít, Vũng Liêm và Trà Ôn. Đồng thời trường tổ chức chuyên đề nhân rộng trong toàn trường thực hiện: tổ chức chuyên đề PTNN, có 6 GV dạy (Kha, Thuận, Ny, Thanh, Nhân, Thảo) và 29 CBGV tham dự. Được phòng GD-ĐT và sở GD-ĐT tặng giấy khen tổng kết 2 năm thực hiện chuyên đề và tham gia báo cáo điển hình cấp Tỉnh.

- Năm học 2018-2019: Trường có 01 giáo viên tham gia dạy Hội thảo thí điểm cấp huyện tại mầm non Ánh Dương (Cô Hoài Nhân) và tổ chức chuyên đề nhân rộng trong toàn trường thực hiện: tổ chức chuyên đề PTVĐ, Thẩm mỹ, PTNT, Lồng ghép HĐNT, có 7 GV dạy (Loan, Ngọc, Tuyết, Thu, Thúy Anh, Thuấn, Thùy Trang) và 28 CBGV tham dự

- Năm học 2019-2020: Trưởng tổ chức hội thảo thí điểm cấp huyện về Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH và môi trường trong và ngoài lớp, kế hoạch tổ khối chuyên môn, kế hoạch nuôi dưỡng,... và tổ chức chuyên đề PTTM, Lớp ghép, PHNT, có 4 GV dạy (Kha, My, Mười, Duyên) và 28 CBGV tham dự.

7. Kết quả thực hiện các tiêu Chí kèm theo Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT

a. Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học:

** Môi trường vật chất:

- Môi trường vật chất trong lớp, ngoài lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho tất cả các trẻ hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế.

- Các khu vực trong nhà trường được quy hoạch theo đúng hướng tận dụng các không gian cho trẻ hoạt động phù hợp, linh hoạt, đa dạng, phong phú: Hiện có trên 30 loại đồ chơi ngoài trời như: Nhà cổ tích cầu trượt xoắn, cầu trượt thang leo đa năng, Bộ vận động đa năng, Cầu thăng bằng dao động, thang leo, Con vật nhún di động, Cầu trượt đôi, đu quay mâm có ray, xích đu sàn lắc, ô tô đạp chân, nhà banh, đu quay mâm 6 chổ, cầu trượt, bập bênh, xích đu, cây nấm, thú nhún, bộ đồ chơi phát triển vận động, thú kéo dây và một số đồ chơi do giáo viên và phụ huynh tự làm như: cầu tre, bập bênh, các đồ chơi được làm từ bánh xe, xích đu, thả bóng, gáo dừa,.... Với những thiết bị đồ chơi đa dạng, phong phú trẻ rất hứng thú và tích cực tham gia chơi, phụ huynh đồng tình và hưởng ứng cùng nhà trường làm ĐDĐC, được phụ huynh hỗ trợ nguyên vật liệu: các chai nhựa, tre, lưới, thùng nhựa,... (mỗi điểm trường phụ có trên 5 đồ chơi tự làm).

- Có phân chia khu chơi cụ thể theo độ tuổi: nhà trẻ có khu chơi riêng, mẫu giáo khu chơi riêng. Bên cạnh đó, một số đồ chơi tự làm được giáo viên phân theo khối lớp phù hợp với trẻ 3-5 tuổi.

- Nhà trường tận dụng tối đa các không gian hiện có để bố trí sắp xếp các khu vực chơi phù hợp đảm bảo an toàn cho trẻ luyện tập, từng khu chơi có bảng tên và mũi tên chỉ dẫn để giúp trẻ biết sử dụng thiết bị và vui chơi, tập luyện đảm bảo an toàn và khoa học. Các thiết bị đồ chơi được bảo quản và dễ lấy khi mỗi lần sử dụng. Phát huy tích tích ực của trẻ qua các trò chơi như: vận động tinh ( cài nút áo, thắt dây đeo, nơ đeo, thắt tóc, dan dây,...), chơi học tập ( làm tranh ảnh, so màu, làm an bum truyện,...), trãi nghiệm với các thiết bị, đồ dùng đồ chơi gần gũi: làm bánh bằng khuôn cát, in hình từ bàn tay, ngón tay, vẽ sáng tạo trên các đồ vật,... năm học này nhà trường trang bị thêm một số góc chơi, khu chơi mới như: Ong tìm chữ, thả banh, xe lon, ném lon, góc âm thanh, bước chân dễ thương, ném lon, ném banh, một số đồ chơi vận động tinh: tết tóc, cài nút, xâu dây, xâu giày, khu vận động nhà trẻ, đi qua đường dích dắt, đi trên vật cản, khu trồng hoa kiểng với những hình con vật ngộ nghĩnh. Đặc biệt, giáo dục trẻ ý thức giữ gìn vệ sinh qua khu “phân loại rác thải” được bố trí trên sân trường.

- Nhà trường có các khu trồng cỏ, tận dụng các bánh xe làm các lối đi dích dắc, các khu chơi đều có hàng rào phân cách, có cổ tích cho trẻ hoạt động, tận dụng tối đa khu vực dưới cầu thang để cho trẻ chơi với các trò chơi học tập: xếp hột hát, in màu, cát sỏi,... Ngoài ra, trường tận dụng các góc cây bóng mát để trang bị các hộp nhựa bỏ các sách truyện vào và làm góc thân thiện giúp cho trẻ hứng thú hơn và phụ huynh đọc cho trẻ nghe vào giờ đón – trả trẻ. Ngoài ra, các mãn tường được tạo ra những hình ảnh mang tính giáo dục trẻ theo chương trình GDMN vừa sinh động vừa phát huy tính sáng tạo, khai thác của trẻ.

- 100% các góc chơi trong lớp mang tính mở, tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng tự lựa chọn và sử dụng sự vật, đồ vật, đồ chơi để thực hành, trải nghiệm: Góc học tập- thư viện, nghệ thuật - tạo hình, xây dựng - lắp ghép,... Phát huy khả năng của trẻ qua các góc: cảm xúc của bé, bé thích làm người lớn, bé trực nhật;..

- 100% các lớp bố trí đảm bảo an toàn cho trẻ, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh.

- Giáo viên luôn tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá dưới nhiều hình thức khác nhau, phát triển toàn diện qua các hoạt động học, vui chơi, hoạt động ngoài trời, các hội thi, lễ hội, tham quan...

- Giáo viên bố trí sắp xếp các thiết bị, đồ chơi ở các góc chơi trong nhóm, lớp đảm bảo an toàn, khai thác sử dụng hiệu quả thiết bị, giáo viên kết hợp với phụ huynh tận dụng nguyên vật liệu sẵn có để sáng tạo ra một số đồ dùng, đồ chơi phù hợp và an toàn cho trẻ luyện tập trên các hoạt động vui chơi, nhằm tạo sự hứng thú cho trẻ, chơi với vật thật: làm quan một số đồ dùng trong gia đình, đồ dùng cá nhân trẻ, rau - củ- quả,.. và một số nguyên vật liệu phế thải để cô và trẻ cùng làm ra sản phẩm đa dạng phong phú như: chai nhựa tạo ra con vật- chiếc xe - hàng rào,...; lá cây tạo ra bông hoa - hình người – trang phục quần áo; hộp giấy tạo ra các nhân vật trong câu truyện,...

- Giáo viên tận dụng tối đa các mảng tường (trong lớp và tường ngoài hành lang) để phát huy khả năng của trẻ qua các góc: cảm xúc của bé, bé thích làm người lớn, bé trực nhật, bé đến lớp,... Các khu vực cầu thang được tận dụng, bố trí để trẻ xem tranh ảnh, làm album, kể chuyện, làm họa sĩ tí hon, nhận biết chữ cái - số,.. Các khu vực hành lang vẽ những hình ảnh gần gũi, chữ cái, số. Nhằm giúp cho trẻ vừa được vận động vuichơi vùa được phát triển nhận thức qua các hính ảnh.

** Môi trường xã hội: Đảm bảo 100% trẻ được an toàn về mặt tâm lý và trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh. Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo. Cụ thể như:

- Quan hệ giữa cô - trẻ: Giáo viên thể hiện tình cảm yêu thương, thái độ tôn trọng, tin tưởng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của mình, luôn đặt mình vào 1 đứa trẻ để cùng tham gia các hoạt động với trẻ ( cùng học, cùng chơi, cùng trò chuyện với trẻ), khi trò chuyện giáo viên ngồi ngang tầm với trẻ, luôn thể hiện sự tương tác với trẻ, nắm bắt nhu cầu giao tiếp của trẻ ( lắng nghe, lịch sự, tôn trọng ý kiến của trẻ, thể hiện cử chỉ, nét mặt ánh mắt, trang phục, tư thế,...), giáo viên luôn là tấm gương để trẻ noi theo.

- Quan hệ giữa trẻ - trẻ: Dạy cho trẻ thói quen biết hợp tác, đoàn kết, chia sẻ, đồng cảm, học hỏi lẫn nhau, chờ đết lượt, phân công, tôn trọng bạn, giải quyết xung đột, kiềm chế, giao tiếp với bạn, hỏi thăm, động viên, giúp bạn,... Tận dụng các mối quan hệ giữa trẻ với trẻ để giáo dục trẻ và có sự thống nhất giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ.

- Quan hệ giữa trẻ - những người xung quanh: Tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp và thể hiện sự quan tâm của mình đối với mọi người, đối với sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh ( chào hỏi, lễ phép, lịch sự, tôn trọng, lắng nghe,...)

- Mối quan hệ giữa giáo viên - cha mẹ trẻ: Thường xuyên trao đổi thông tin nắm bắt tình hình sức khỏe của trẻ, các kỹ năng chăm sóc sức khỏe, về thói quen của trẻ mới đi học hoặc thông báo những điều cần thiết và nhắc nhở những quy định chung của trường, lớp với Cha mẹ trẻ ( họp phụ huynh trường – lớp, giờ đón – trả trẻ, tổ chức chuyên đề, các hoạt động lễ hội của trường, trao đổi qua điện thoại,..)

b. Xây dựng kế hoạch giáo dục:

- Nhà trường chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục thể hiện các mục tiêu cụ thể phản ánh được kết quả mong đợi đáp ứng với sự phát triển của trẻ theo giai đoạn và theo Chương trình giáo dục mầm non, phân công các tổ chuyên môn xem kế hoạch CSGD 2 tuần/lần, phó hiệu trưởng 1 chủ đề/lần.

- 100% giáo viên thể hiện nội dung giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non và phù hợp với sự phát triển của trẻ và điều kiện thực tế của trường và nhận thức của trẻ.

- Có thể hiện nội dung tích hợp, tạo sự gắn kết, tác động một cách thống nhất đồng bộ đến sự phát triển của trẻ.

- Kế hoạch được chỉnh sửa, nổ sung và chia sẻ qua họp tổ, sinh hoạt chuyên môn.

c. Đổi mới tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ:

- Giáo viên thực hiện việc đổi mới các hoạt động, gợi ý cho trẻ tự làm, tự sáng tạo, không gò bó trẻ theo khuôn khổ, phát huy sự sáng tạo thích thú của trẻ qua việc “học bằng chơi, chơi bằng học”: tận dụng các tranh ảnh, đồ dùng trẻ làm để trang trí lớp học, hành lang, cầu thang và các khu chơi ngoài trời.

- Giáo viên luôn quan tâm đến trẻ mọi lúc mọi nơi, luôn tạo điều kiện cho trẻ thể hiện cảm xúc của mình qua các góc chơi: bé trực nhật, cảm xúc của bé, bé thích màu gì, bé thích học gì, hoạt động ngoài trời, khám phá thiên nhiên- khoa học,...

d. Đánh giá sự phát triển của trẻ:

- 100% nhóm lớp thực hiện kịp thời việc đánh giá trẻ theo các hoạt động và có đưa ra giải pháp tác động đến trẻ ở các hoạt động sau.

- 100% trẻ được đánh giá sự tiến bộ dựa trên mức độ đạt so với mực tiêu giáo dục. Kết quả hàng năm có 100% trẻ đạt theo các yêu cầu đề ra.

e. Tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm

- 100% CBGV nghiêm túc thực hiện công tác tuyên truyền trong phụ huynh, cộng đồng, trẻ. Tuyên truyền qua họp phụ huynh, qua hội thi lấy trẻ làm trung tâm, qua chuyên đề, hội giảng, bảng tin của trường – lớp, hình ảnh tuyên truyền,...

- Đa dạng các hình thức, hoạt động tuyên truyền tới cộng đồng, cha mẹ trẻ về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non và hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.

- Thực hiện tốt mối quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa giáo viên, nhà trường, cha mẹ trẻ và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

- Thực hiện kịp thời việc phối hợp, trao đổi thông tin của trẻ với phụ huynh trong công tác CSGD trẻ. Có trên 90% phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng.

8. Tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện chuyên đề

- Hàng năm, nhà trường thực hiện sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm và định hướng cho các năm tiếp theo. Khen thưởng, biểu dương những cá nhân tiêu biểu hàng năm như:

+ Cô Nguyễn Thị Út Mười, cô Nguyễn Thị Mộng Kha, cô Nguyễn Thị Khả Thy: có nhiều sáng tạo trong việc cải tạo môi trường ngoài trời và làm đồ chơi cho trẻ.

+ Cô Lê Thị Thùy Trang, Cô Nguyễn Thị Kiều Diễm, Cô Hồng Thị Ngọc Loan, Cô Trịnh Ngọc Trân, Cô Phạm Thúy Anh: Sáng tạo trong việc xây dựng môi trường trong lớp và bố trí các góc chơi linh hoạt, sáng tạo.

+ Cô Phạm Hoài Nhân, Cô Phạm Thị Tú Trinh, Cô Đặng Ngọc Phương Thanh: Sáng tạo trong việc làm đồ dùng đồ chơi và thiết kế các khu chơi góc chơi hành lang, cầu thang, ngoài trời, vẽ sáng tạo các khu chơi, mãn tường cho trẻ trãi nghiệm khám phá.

+ Cô Phạm Hoài Nhân, cô Nguyễn Thị Kiều Diễm: tham gia dạy hội giảng cấp huyện đạt kết quả cao.

+ Cô Lê Ngọc Thuận, cô Trịnh Thị Hằng Ny, cô Đặng Ngọc Phương Thanh, cô Nguyễn Thị Mộng Kha: tham gia dạy hội giảng thí điểm cấp Tỉnh.

+ Cô Lê Bảo Ngọc, Cô Nguyễn Phong Lan: có nhiều sáng tạo trong tiết học, tổ chức giờ học linh hoạt, sáng tạo.

+ Cô Trần Thị Kim Hồng, cô Trịnh Thị So: tích cực trong việc xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, Cô Lê Thị Anh Pha có nhiều sang tạo trong hướng dẫn giáo viên khai thác đồ dùng các góc chơi ngoài trời, sáng tạo trong làm đồ dùng đồ chơi.

+ Cô Nguyễn Thị Thu Trang: tiêu biểu trong việc báo cáo thí điểm thực hiện chuyên đề cấp Tỉnh do huyện đăng cay tại Tân Mỹ và báo cáo điển hình cấp Tỉnh do Sở GD-ĐT tổ chức và được Huyện, Tỉnh tặng giấy khen, năm 2018 được Bộ GD-ĐT tặng Bằng khen về đổi mới sáng tạo trong công tác quản lý.

+ Tập thể nhà trường được phòng GD-ĐT kiểm tra đánh giá tốt hàng năm. Nhà trường duy trì và phát huy môi trường trong và ngoài lớp. Hàng năm, có bổ sung các đồ chơi mới và cải tạo các đồ chơi sẵn có.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1. Kết quả nổi bật:

- Nhà trường tham gia các lớp tập huấn do sở GD-ĐT và Phòng GD-ĐT tổ chức đầy đủ và tổ chức triển khai tập huấn cho 100% CBQL và GVMN của trường; Chọn lớp điểm để thực hiện chuyên đề hàng năm và nhân rộng trong toàn trường thực hiện đạt hiệu quả.

- Hàng năm nhà trường có xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chuyên đề cho 100% giáo viên, phân công các phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn cùng phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, tư vấn, hỗ trợ giáo viên thực hiện tốt chuyên đề theo 5 tiêu chí.

- 100% các lớp bố trí tốt môi trường cho trẻ hoạt động trong và ngoài lớp; phối hợp kịp thời với Ban chấp hành hội cha mẹ trẻ trong việc tổ chức thực hiện chuyên đề; Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chuyên đề trong 100% giáo viên;

- Môi trường trong và ngoài lớp được sắp xếp bố trí phù hợp, ngăn nắp, đồ chơi an toàn, phong phú, đảm bảo cho trẻ hoạt động theo quan điểm trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm; Đa số giáo viên có tiết dạy sáng tạo, đạt hiệu quả cao, đảm bảo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

- 100% giáo viên thực hiện tốt việc bố trí môi trường trong và ngoài lớp. Thực hiện tốt các tiêu chí theo 5 nội dung của chuyên đề: Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học; Đổi mới tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ; Đánh giá sự phát triển của trẻ; Tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm.

- Trẻ mạnh dạn tự tin, hứng thú khi tham gia các hoạt động, tự phân vai chơi và có ý thức trong việc sắp xếp đồ dùng đồ chơi, sản phẩm trẻ tạo ra để trang trí lớp học chiếm trên 80%.

- Tham gia học tập đầy đủ các buổi hội giảng cấp Tỉnh, huyện, cụm. Tổ chức thành công các hội thi tại trường và tham gia đạt kết quả các hội thi cấp huyện, tỉnh như: hội thi “Cô năng động- Bé tài năng”, hội thi “ Bé khỏe- Bé khéo tay”, hội thi “liên hoan tiếng hát dân ca”, hội thi “Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm”.

- Tổ chức thí điểm cấp tỉnh thành công và nhân rộng cho các huyện cùng tham dự: Vũng Liêm, Tam Bình, Mang Thít và các trường trong toàn huyện.

- 100% CBGV nghiêm túc thực hiện công tác tuyên truyền trong phụ huynh, cộng đồng, trẻ. Tuyên truyền qua họp phụ huynh, qua hội thi lấy trẻ làm trung tâm, qua chuyên đề, hội giảng,... Phụ huynh có sự chuyển biến rõ nét về nhận thức, không chỉ hiểu hơn về việc cần thiết tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời, nhiều phụ huynh tích cực ủng hộ các nguyên vật liệu, ngày công để cùng giáo viên làm đồ chơi vận động cho trẻ. Trong các ngày hội ngày lễ khi được mời tham gia chơi cùng trẻ phụ huynh rất hào hứng không còn e ngại như trước.

2. Khó khăn, hạn chế

- Một số giáo viên chưa linh hoạt thay đổi hình thức tổ chức, chưa mạnh dạn khai thác trẻ, giáo viên mới ra trường thiếu kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, chưa phát huy hết khả năng sáng tạo của trẻ. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục còn gò bó, giáo viên chưa mạnh dạn thay đổi hình thức tổ chức, việc xây dựng kế hoạch chưa hiệu quả, chưa tập trung sâu vào lấy trẻ làm trung tâm;

- Giáo viên mới ra trường, ngại đổi mới, thiếu kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, còn gò bó trẻ theo khuôn khổ, chưa phát huy sự sáng tạo thích thú của trẻ qua việc “học bằng chơi, chơi bằng học”;

- Công tác tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm chưa thật sự quan tâm đồng bộ.

- Các buổi tham gia tập huấn, bồi dưỡng: Vẫn còn 1 vài giáo viên chưa mạnh dạn trao đổi, chưa phát tính tích cực khi tham gia tập huấn. Việc tổ chức thực hành trong các buổi tập huấn còn ít;

III. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG:

1. Đối với phòng GDĐT

- Tổ chức khen thưởng cá nhân, tập thể tiêu biểu trong việc thực hiện chuyên đề nhằm tạo động lực giúp cho cá nhân, nhà trường phát huy hơn nữa và nhằm duy trì tốt chuyên đề ở những năm tiếp theo

- Định hướng cho các trường những nội dung cần duy trì và phát huy sau khi kết thúc chuyên đề.

- Trang cấp thêm một số thiết bị cho trường hoạt động: máy chiếu, đồ chơi liên hoàn, thảm cỏ, thiết bị đồ dùng theo Thông tư 02/TT-BGDĐT cho các lớp.

2. Đối với sở GDĐT

- Tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cốt cán nhằm duy trì tốt chuyên đề.

- Cẩn tổ chức cho các trường được giao lưu, tham quan học tập một số mô hình tiêu biểu sau 5 năm thực hiện chuyên đề trong và ngoài tỉnh.

 

Trên đây là báo cáo thực hiện các chuyên đề giáo dục mầm non của trường mầm non Tích Thiện giai đoạn 2016-2020./.

 

Nơi nhận: HIỆU TRƯỞNG

- Sở GDĐT (Phòng GDMN);

- Phòng GD-ĐT;

- CBGV;

  • Lưu: VT.

 

 

Nguyễn Thị Thu Trang

 

Monday, 06/07/2020|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử Trường Mầm non Tích Thiện
Ảnh liên kết
Thống kê truy cập
Lượt truy cập hiện tại : 1
Hôm nay : 1
Năm 2020 : 6.136
Tin Video
Thăm dò ý kiến

TONG KẾT 5 NĂM CHUYÊN ĐỀ LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM

I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:

1. Công tác quản lý, chỉ đạo:

a. Các căn cứ xây dựng ban hanh kế hoạch thực hiện:

- Căn cứ vào kế hoạch số 289/KH-SGDĐT ngày 24/02/2017 của sở GD-ĐT Vĩnh Long; Kế hoạch số: 98/KH-PGDĐT ngày 16/3/2017 của phòng GD-ĐT Trà Ôn, kế hoạch triển khai chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 – 2020.

- Nhà trường xây dựng kế hoạch số: 41a/KH-TrMMTT, ngày 28/03/2017 kế hoạch triển khai chuyên đề “ Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” giai đoạn 2016 - 2020 và triển khai trong 100% CBGV-NV thực hiện.

- Hàng năm, Nhà trường lồng ghép kế hoạch thực hiện chuyên đề “Trường MN lấy trẻ làm trung tâm” và chuyên đề GDPTVĐ vào kế hoạch năm học và để ra chỉ tiêu cụ thể: 100% các lớp tiếp tục nâng cao chất lượng thực hiện Chuyên đề “Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm” và “Nâng cao chuyên đề GDPTVĐ”. Đồng thời, chỉ đạo bộ phận chuyên môn, các tổ khối chuyên môn, giáo viên thực hiện cụ thể hàng tháng.

- Việc xây dựng kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên cho CBGV có nội dung lồng ghép chuyên đề thực hiện trong năm học (bồi dưỡng ở nội dung 2).

b. Công tác kiểm tra:

- Sở giáo dục: Trường được chọn thí điểm chuyên đề cấp Tỉnh và Tổ chức thí điểm tại trường vào tháng 11 năm 2018.

- Phòng GD-ĐT: Kiểm tra chuyên đề hàng năm (mỗi năm học 1 lần, 4 cuộc), được đánh giá kết luận tốt qua các lần kiểm tra.

- Ngoài ra phòng GD-ĐT chọn trường thí điểm để tổ chức chuyên đề tại trường theo cụm được 2 cuộc (năm học 2018-2019 và năm học 2019-2020) để giao lưu các trường trao đổi, chia sẻ, học tập.

- Nhà trường có xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chuyên đề 100% giáo viên lồng ghép vào kế hoạch kiểm tra nội bộ, nội dung kiểm tra bao gồm: xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, hoạt động sư phạm, đột xuất, phỏng vấn các tiêu chí xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, kiểm tra chuyên đề ở các lĩnh vực, lớp ghép, hồ sơ giáo viên và tập trung chủ yếu vào những khó khăn bất cập từ giáo viên.

** Thống kê công tác kiểm tra chuyên đề giai đoạn 2016-2020:

- Năm học 2016-2017:wrap:simple">- Đầu năm, trường tiến hành rà soát danh mục đồ dùng của lớp để có kế hoạch mua sắm, bổ sung kịp thời theo Danh mục thiết bị dạy học tối thiểu đã ban hành (Thông tư số 02/2010/TT-BGDĐT ngày 11/2/2010) và Thông tư số 34/2013 ngày 17 tháng 9 năm 2013. Chỉ đạo 100% nhóm – lớp thực hiện tốt việc sử dụng và bảo quản ĐDĐC, thiết bị dạy học;

- 100% giáo viên sưu tầm nguyên vật liệu làm đồ dùng, đồ chơi 5 loại/ chủ đề, đồ dùng thay thế theo Thông tư 02/TT.BGD-ĐT (có loại 595 ĐDĐC giáo viên tự làm). Các lớp trang bị tốt về môi trường CSVC theo quan điểm GDLTLTT;

- Sân chơi có trên 20 loại ĐCNT (Đồ chơi được cấp: nhà banh, thú nhún, cầu thăng bằng, đu quay, xích đu,…. và đồ chơi do GV phối hợp với phụ huynh tự làm: Cầu tre, nhà chồi, bập bênh, cổng chui, ném vòng, …);

- Hoàn thành công trình sửa chữa nhỏ 1 số thiết bị hư hỏng, làm khu chợ quê, vận động phụ huynh hỗ trợ 8 chiếc xe đạp cho trẻ chơi mô hình sa bàn giao thông tại điểm chính. Thực hiện công tác sửa chữa, nâng cấp phòng học, nhà vệ sinh, hệ thống điện nước với số tiền: 11.000.000đồng, từ nguồn ngân sách phòng GD cấp.

- Vận động phụ huynh hợp tác hỗ trợ chuyên đề cho trường: 40 bánh xe tải, 50 bánh xe honđa, 5 cây tre, cây kiểng để trồng xung quanh sân trường, rau, củ, quả để trẻ chơi khu chợ quê, nguyên vật liệu: vỏ hộp nhựa, lon pepsi, hộp giấy, vải, ni long, cá, bồ câu và ngày công lao động.

- Nhà trường trang bị ĐDDH, đồ chơi từ nguồn ngân sách với số tiền: 154.360.000đồng, giáo viên vận động từ phụ huynh: 969.000đồng. Cài đặt phần mềm kissmard cho trẻ ứng dụng CNTT với số tiền: 22.000.000 đồng.

** Năm học 2018-2019:

- Nhà trường có xây dựng kế hoạch bổ sung, trang bị đồ dùng đồ chơi và mỗi lớp đều có kế hoạch tự làm đồ dùng đồ chơi theo chủ đề, đồ dùng thay thế theo Thông tư 02/TT-BGDĐT. 100% giáo viên trong tổ làm đồ dùng, đồ chơi theo chủ đề (5 loại/chủ đề và thực hiện đồng bộ trong 9 tháng học, tổng cộng 585 loại/năm học/13 nhóm – lớp )

- Trang cấp từ ngân sách Huyện: Trang bị đồ chơi cho trẻ nhà trẻ: 99.380.000 đồng

- Ngân sách trang bị từ nguồn hoạt động phí của đơn vị

+ Sữa chữa nhà lưới sân bóng: 3.200.000 đồng

+ Trang bị 4 tivi: 26.000.000 đồng

+ Bóng tập yoga: 10 quả: 4.500.000 đồng

+ Lắp đặt cổng thông tin điện tử để nâng cao công nghệ thông tin với số tiền 1.500.000 đồng.

- Về thiết bị dạy học (từ nguồn học phí của trường): Làm đồ dùng ngoài trời: 7.500.000 đồng; mua sách, phục vụ công tác chuyên môn: 4.060.000 đồng.

** Năm học 2019-2020:

- 100% nhóm – lớp bố trí các khu chơi cụ thể rõ ràng, phân khu vực chơi đảm bào cho trẻ hoạt động dễ dàng, tích cực, trang bị 01 số đồ dùng đồ chơi phát huy tính tích cực của trẻ theo quan điểm “giáo dục lấy trẻ làm trung tâm”, chuyên đề nâng cao chất lượng GDPT vận động

- Thực hiện kịp thời việc tham mưu sửa chữa, cải tạo CSVC, đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng đồ chơi để nâng cao chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ:

  • Về trang thiết bị (từ nguồn hoạt động phí của đơn vị) năm học 2019-2020:

+ Thiết bị đồ dùng mầm non: 92,402,000 đồng

+ Máy tính cho phòng máy (4 cái): 34,760,000 đồng

- Về thiết bị dạy học (từ nguồn học phí của trường): Trang trí và sơn lại các mãng tường, các góc chơi trên sân trường: 3,498,000 đồng; Làm cửa rào, mái che khu cát nước, kệ để chậu hoa: 3.950.151 đồng.

- Tổng tiền quy ra từ hiện vật, nguyên vật liệu để phục vụ công tác giảng dạy và ngày công lao động qua 5 năm là 150.491.000 đồng.

3. Công tác bồi dưỡng đội ngũ giáo viên:

* Nội dung bồi dưỡng:

- Tập trung chủ yếu vào 5 tiêu chí: Hướng dẫn giáo viên xây dựng Môi trường giáo dục; Xây dựng kế hoạch giáo dục; Tổ chức hoạt động giáo dục; Đánh giá sự phát triển của trẻ; Sự phối hợp giữa nhà trường, cha mẹ và cộng đồng trong giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

- Hướng dẫn tổ chức hoạt động chơi cho trẻ (chơi, hoạt động ở các góc; chơi ngoài trời; chơi, hoạt động theo ý thích)

- Thực hành các hoạt động nâng cao chất lượng chuyên đề theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại trường, Tổ chức bồi dưỡng giáo viên qua cách soạn giảng, tổ chức thực hành trãi nghiệm qua các hoạt động hàng ngày.

* Hình thức bồi dưỡng:

- Bồi dưỡng tập trung tại trường, nhóm, tổ, sinh hoạt chuyên môn, chuyên đề trường,... CBGV tự bồi dưỡng qua mạng, internet,..

- Phân công giáo viên cốt cán, ban giám hiệu tham gia hội giảng cấp Tỉnh (Vũng Liêm, Bình Minh, Trà Ôn), Hội giảng huyện (Tích Thiện, Ánh Dương, Hòa Bình), chuyên đề cụm trong huyện (Vĩnh Xuân, Hựu Thành, Trà Côn, Phú Thành, Lục Sĩ Thành,...)

4. Tổ chức tập huấn, hội thảo chuyên đề:

Hàng năm, trường cử BGH, tổ khối chuyên môn, giáo viên cốt cát tham gia các lớp bồi dưỡng của Sở, Phòng qua công tác BDTX hàng năm, qua việc tổ chức hội thảo thí điểm cấp Tỉnh, cấp Huyện và tại đơn vị.

- Cấp tỉnh: 4 cuộc tập huấn – bồi dưỡng, 4 cuộc tham gia hội giảng- hội thảo, 01 cuộc tổng kết – khen thưởng 02 năm thực hiện chuyên đề.

- Cấp huyện: 4 cuộc bồi dưỡng, 4 cuộc hội giảng- hội thảo, 9 cuộc hội giảng cụm và các cuộc bồi dưỡng dành cho tổ nghiệp vụ huyện (1 năm 2 lân)

5. Tổ chức Cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong cơ sở giáo dục mầm non” (LTLTT)

- Thực hiện kế hoạch của Sở GD, phòng GD về kế hoạch tổ chức cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong các cơ sở giáo dục mầm non”. Nhà trường tiến hành xây dựng kế hoạch, triển khai trong hội đồng sư phạm và tổ chức thành công hội thi "Xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâmcó 100% CBGV tham dự và 100% trẻ được tham gia cuộc thi vào tháng 01 năm 2018.

- Nội dung: Cuộc thi gồm 3 phần:

+ Phần 1: Cảm nhận của trẻ khi tham quan sân trường;

+ Phần 2: Chơi các trò chơi trên sân trường (dân gian, có luật, trò chơi sáng tạo,..);

+ Phần 3: Tài năng của bé (biểu diễn văn nghệ, thời trang, tạo hình, vẽ, nặn, lắp ghép ).

- Hình thức: Trẻ thể hiện 3 phần thi theo yêu cầu, mỗi lớp là đội thi, đối tượng tham gia: tất cả trẻ đang học tại trường (trẻ lớp mầm, chồi, lá). Sau khi bình chọn kết quả cuộc thi, lớp nào đạt giải nhất thì tham gia cấp huyện.

- Kết quả đạt được:

+ Nhà trường xây dựng kế hoạch tổ chức cuộc thi và triển khai kịp thời trong đơn vị; Giáo viên chấp hành tốt theo kế hoạch của trường, thực hiện việc rèn luyện cho trẻ tham gia tốt cuộc thi theo yêu cầu;

+ Có 12/12 lớp tham gia, trẻ linh hoạt, sáng tạo, tích cực tham gia cuộc thi, trẻ tạo ra rất nhiều sản phẩm đa dạng, phong phú;...

+ Phụ huynh hưởng ứng cùng với nhà trường trong ngày diễn ra cuộc thi, ủng hộ nguyên vật liệu cho trẻ tạo ra sản phẩm, ban chấp hành hội vận động phụ huynh hỗ trợ kinh phí phát thưởng cho hội thi với số tiền: 1.000.000 đồng.

- Tham gia cấp huyện, tỉnh: Tham gia cấp huyện đạt giải nhất, và được chọn tham gia hội thi cấp Tỉnh đạt giải khuyến khích.

** Ngoài ra nhà trường đã tổ chức và tham gia các cuộc thi hàng năm do phòng GD-ĐT tổ chức với quan điểm “Lấy trẻ làm trung tâm” như:

- Tham gia hội thi cấp huyện “Bé khỏe -bé khéo tay” đạt giải phong cách của trẻ. Hội thi “ Liên hoan tiếng hát dân ca” cấp Tỉnh đạt giải A. Trường tổ chức hội thi cấp trường có 12 đội tham dự với số trẻ 60 trẻ và 24 giáo viên tham gia.

- Tổ chức cuộc thi “Xây dựng môi trường giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” cấp trường có 100% GV và 100% trẻ tham gia. Trường tổ chức hội thi “Cô năng động- Bé tài năng” có 6 đội tham dự với tổng số 48 trẻ và giáo viên tham dự.

- Tham gia hội thi “Liên hoan tiếng hát dân ca” cấp tỉnh giải khuyến khích; Giải nhất+ giải khuyến khích và giải nhì toàn đoàn hội thi “Cô năng động – Bé tài năng” cấp huyện có 3 trẻ và 3 giáo viên tham dự.

- Ngoài ra trường tổ chức “Ngày hội thể dục thể thao”, ngày hội dinh dưỡng, ngày hội ẩm thực dân gian, lễ hội trung thu và giáo viên tổ chức phong trào văn nghệ tại nhóm lớp có 100% trẻ tham dự. Tổ chức cho trẻ tham quan vườn cây ăn quả, cánh đống lúa, chùa Quan Âm, Trường tiểu học cho các khối lớp Chồi- lá.

6. Kết quả triển khai chuyên đề ở các cơ sở GDMN

- Năm học 2016-2017: mở chuyên đề trường 2 lần có 4 giáo viên dạy, có 1 giáo viên tham gia dạy chuyên đề cụm Huyện (MN Thới Hòa).

- Năm học 2017-2018: Tổ chức hội giảng cấp tỉnh: Trường có 4 giáo viên tham gia dạy và được đánh giá tốt 4/4, đạt 100% ( nhà trẻ 2 hoạt động, mẫu giáo 2 hoạt động, gồm: Cô Lê Ngọc Thuận, Cô Nguyễn Thị Mộng Kha, Cô Trịnh Thị Hằng Ny, Cô Đặng Ngọc Phương Thanh). Có các huyện cùng tham dự: Tam Bình, Mang Thít, Vũng Liêm và Trà Ôn. Đồng thời trường tổ chức chuyên đề nhân rộng trong toàn trường thực hiện: tổ chức chuyên đề PTNN, có 6 GV dạy (Kha, Thuận, Ny, Thanh, Nhân, Thảo) và 29 CBGV tham dự. Được phòng GD-ĐT và sở GD-ĐT tặng giấy khen tổng kết 2 năm thực hiện chuyên đề và tham gia báo cáo điển hình cấp Tỉnh.

- Năm học 2018-2019: Trường có 01 giáo viên tham gia dạy Hội thảo thí điểm cấp huyện tại mầm non Ánh Dương (Cô Hoài Nhân) và tổ chức chuyên đề nhân rộng trong toàn trường thực hiện: tổ chức chuyên đề PTVĐ, Thẩm mỹ, PTNT, Lồng ghép HĐNT, có 7 GV dạy (Loan, Ngọc, Tuyết, Thu, Thúy Anh, Thuấn, Thùy Trang) và 28 CBGV tham dự

- Năm học 2019-2020: Trưởng tổ chức hội thảo thí điểm cấp huyện về Sinh hoạt chuyên môn theo NCBH và môi trường trong và ngoài lớp, kế hoạch tổ khối chuyên môn, kế hoạch nuôi dưỡng,... và tổ chức chuyên đề PTTM, Lớp ghép, PHNT, có 4 GV dạy (Kha, My, Mười, Duyên) và 28 CBGV tham dự.

7. Kết quả thực hiện các tiêu Chí kèm theo Kế hoạch số 56/KH-BGDĐT

a. Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học:

** Môi trường vật chất:

- Môi trường vật chất trong lớp, ngoài lớp đáp ứng nhu cầu, hứng thú chơi của trẻ, tạo điều kiện cho tất cả các trẻ hoạt động phù hợp với điều kiện thực tế.

- Các khu vực trong nhà trường được quy hoạch theo đúng hướng tận dụng các không gian cho trẻ hoạt động phù hợp, linh hoạt, đa dạng, phong phú: Hiện có trên 30 loại đồ chơi ngoài trời như: Nhà cổ tích cầu trượt xoắn, cầu trượt thang leo đa năng, Bộ vận động đa năng, Cầu thăng bằng dao động, thang leo, Con vật nhún di động, Cầu trượt đôi, đu quay mâm có ray, xích đu sàn lắc, ô tô đạp chân, nhà banh, đu quay mâm 6 chổ, cầu trượt, bập bênh, xích đu, cây nấm, thú nhún, bộ đồ chơi phát triển vận động, thú kéo dây và một số đồ chơi do giáo viên và phụ huynh tự làm như: cầu tre, bập bênh, các đồ chơi được làm từ bánh xe, xích đu, thả bóng, gáo dừa,.... Với những thiết bị đồ chơi đa dạng, phong phú trẻ rất hứng thú và tích cực tham gia chơi, phụ huynh đồng tình và hưởng ứng cùng nhà trường làm ĐDĐC, được phụ huynh hỗ trợ nguyên vật liệu: các chai nhựa, tre, lưới, thùng nhựa,... (mỗi điểm trường phụ có trên 5 đồ chơi tự làm).

- Có phân chia khu chơi cụ thể theo độ tuổi: nhà trẻ có khu chơi riêng, mẫu giáo khu chơi riêng. Bên cạnh đó, một số đồ chơi tự làm được giáo viên phân theo khối lớp phù hợp với trẻ 3-5 tuổi.

- Nhà trường tận dụng tối đa các không gian hiện có để bố trí sắp xếp các khu vực chơi phù hợp đảm bảo an toàn cho trẻ luyện tập, từng khu chơi có bảng tên và mũi tên chỉ dẫn để giúp trẻ biết sử dụng thiết bị và vui chơi, tập luyện đảm bảo an toàn và khoa học. Các thiết bị đồ chơi được bảo quản và dễ lấy khi mỗi lần sử dụng. Phát huy tích tích ực của trẻ qua các trò chơi như: vận động tinh ( cài nút áo, thắt dây đeo, nơ đeo, thắt tóc, dan dây,...), chơi học tập ( làm tranh ảnh, so màu, làm an bum truyện,...), trãi nghiệm với các thiết bị, đồ dùng đồ chơi gần gũi: làm bánh bằng khuôn cát, in hình từ bàn tay, ngón tay, vẽ sáng tạo trên các đồ vật,... năm học này nhà trường trang bị thêm một số góc chơi, khu chơi mới như: Ong tìm chữ, thả banh, xe lon, ném lon, góc âm thanh, bước chân dễ thương, ném lon, ném banh, một số đồ chơi vận động tinh: tết tóc, cài nút, xâu dây, xâu giày, khu vận động nhà trẻ, đi qua đường dích dắt, đi trên vật cản, khu trồng hoa kiểng với những hình con vật ngộ nghĩnh. Đặc biệt, giáo dục trẻ ý thức giữ gìn vệ sinh qua khu “phân loại rác thải” được bố trí trên sân trường.

- Nhà trường có các khu trồng cỏ, tận dụng các bánh xe làm các lối đi dích dắc, các khu chơi đều có hàng rào phân cách, có cổ tích cho trẻ hoạt động, tận dụng tối đa khu vực dưới cầu thang để cho trẻ chơi với các trò chơi học tập: xếp hột hát, in màu, cát sỏi,... Ngoài ra, trường tận dụng các góc cây bóng mát để trang bị các hộp nhựa bỏ các sách truyện vào và làm góc thân thiện giúp cho trẻ hứng thú hơn và phụ huynh đọc cho trẻ nghe vào giờ đón – trả trẻ. Ngoài ra, các mãn tường được tạo ra những hình ảnh mang tính giáo dục trẻ theo chương trình GDMN vừa sinh động vừa phát huy tính sáng tạo, khai thác của trẻ.

- 100% các góc chơi trong lớp mang tính mở, tạo điều kiện cho trẻ dễ dàng tự lựa chọn và sử dụng sự vật, đồ vật, đồ chơi để thực hành, trải nghiệm: Góc học tập- thư viện, nghệ thuật - tạo hình, xây dựng - lắp ghép,... Phát huy khả năng của trẻ qua các góc: cảm xúc của bé, bé thích làm người lớn, bé trực nhật;..

- 100% các lớp bố trí đảm bảo an toàn cho trẻ, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh.

- Giáo viên luôn tạo điều kiện, cơ hội cho trẻ hoạt động, trải nghiệm, khám phá dưới nhiều hình thức khác nhau, phát triển toàn diện qua các hoạt động học, vui chơi, hoạt động ngoài trời, các hội thi, lễ hội, tham quan...

- Giáo viên bố trí sắp xếp các thiết bị, đồ chơi ở các góc chơi trong nhóm, lớp đảm bảo an toàn, khai thác sử dụng hiệu quả thiết bị, giáo viên kết hợp với phụ huynh tận dụng nguyên vật liệu sẵn có để sáng tạo ra một số đồ dùng, đồ chơi phù hợp và an toàn cho trẻ luyện tập trên các hoạt động vui chơi, nhằm tạo sự hứng thú cho trẻ, chơi với vật thật: làm quan một số đồ dùng trong gia đình, đồ dùng cá nhân trẻ, rau - củ- quả,.. và một số nguyên vật liệu phế thải để cô và trẻ cùng làm ra sản phẩm đa dạng phong phú như: chai nhựa tạo ra con vật- chiếc xe - hàng rào,...; lá cây tạo ra bông hoa - hình người – trang phục quần áo; hộp giấy tạo ra các nhân vật trong câu truyện,...

- Giáo viên tận dụng tối đa các mảng tường (trong lớp và tường ngoài hành lang) để phát huy khả năng của trẻ qua các góc: cảm xúc của bé, bé thích làm người lớn, bé trực nhật, bé đến lớp,... Các khu vực cầu thang được tận dụng, bố trí để trẻ xem tranh ảnh, làm album, kể chuyện, làm họa sĩ tí hon, nhận biết chữ cái - số,.. Các khu vực hành lang vẽ những hình ảnh gần gũi, chữ cái, số. Nhằm giúp cho trẻ vừa được vận động vuichơi vùa được phát triển nhận thức qua các hính ảnh.

** Môi trường xã hội: Đảm bảo 100% trẻ được an toàn về mặt tâm lý và trẻ thường xuyên được giao tiếp, thể hiện mối quan hệ thân thiện giữa trẻ với trẻ và trẻ với những người xung quanh. Hành vi, cử chỉ, lời nói, thái độ của giáo viên đối với trẻ và những người khác luôn mẫu mực để trẻ noi theo. Cụ thể như:

- Quan hệ giữa cô - trẻ: Giáo viên thể hiện tình cảm yêu thương, thái độ tôn trọng, tin tưởng trẻ, tạo cơ hội cho trẻ bộc lộ những suy nghĩ, tâm tư nguyện vọng của mình, luôn đặt mình vào 1 đứa trẻ để cùng tham gia các hoạt động với trẻ ( cùng học, cùng chơi, cùng trò chuyện với trẻ), khi trò chuyện giáo viên ngồi ngang tầm với trẻ, luôn thể hiện sự tương tác với trẻ, nắm bắt nhu cầu giao tiếp của trẻ ( lắng nghe, lịch sự, tôn trọng ý kiến của trẻ, thể hiện cử chỉ, nét mặt ánh mắt, trang phục, tư thế,...), giáo viên luôn là tấm gương để trẻ noi theo.

- Quan hệ giữa trẻ - trẻ: Dạy cho trẻ thói quen biết hợp tác, đoàn kết, chia sẻ, đồng cảm, học hỏi lẫn nhau, chờ đết lượt, phân công, tôn trọng bạn, giải quyết xung đột, kiềm chế, giao tiếp với bạn, hỏi thăm, động viên, giúp bạn,... Tận dụng các mối quan hệ giữa trẻ với trẻ để giáo dục trẻ và có sự thống nhất giữa trường mầm non, gia đình và cộng đồng xã hội trong việc chăm sóc, giáo dục trẻ.

- Quan hệ giữa trẻ - những người xung quanh: Tạo điều kiện cho trẻ giao tiếp và thể hiện sự quan tâm của mình đối với mọi người, đối với sự vật hiện tượng gần gũi xung quanh ( chào hỏi, lễ phép, lịch sự, tôn trọng, lắng nghe,...)

- Mối quan hệ giữa giáo viên - cha mẹ trẻ: Thường xuyên trao đổi thông tin nắm bắt tình hình sức khỏe của trẻ, các kỹ năng chăm sóc sức khỏe, về thói quen của trẻ mới đi học hoặc thông báo những điều cần thiết và nhắc nhở những quy định chung của trường, lớp với Cha mẹ trẻ ( họp phụ huynh trường – lớp, giờ đón – trả trẻ, tổ chức chuyên đề, các hoạt động lễ hội của trường, trao đổi qua điện thoại,..)

b. Xây dựng kế hoạch giáo dục:

- Nhà trường chỉ đạo giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục thể hiện các mục tiêu cụ thể phản ánh được kết quả mong đợi đáp ứng với sự phát triển của trẻ theo giai đoạn và theo Chương trình giáo dục mầm non, phân công các tổ chuyên môn xem kế hoạch CSGD 2 tuần/lần, phó hiệu trưởng 1 chủ đề/lần.

- 100% giáo viên thể hiện nội dung giáo dục theo Chương trình giáo dục mầm non và phù hợp với sự phát triển của trẻ và điều kiện thực tế của trường và nhận thức của trẻ.

- Có thể hiện nội dung tích hợp, tạo sự gắn kết, tác động một cách thống nhất đồng bộ đến sự phát triển của trẻ.

- Kế hoạch được chỉnh sửa, nổ sung và chia sẻ qua họp tổ, sinh hoạt chuyên môn.

c. Đổi mới tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ:

- Giáo viên thực hiện việc đổi mới các hoạt động, gợi ý cho trẻ tự làm, tự sáng tạo, không gò bó trẻ theo khuôn khổ, phát huy sự sáng tạo thích thú của trẻ qua việc “học bằng chơi, chơi bằng học”: tận dụng các tranh ảnh, đồ dùng trẻ làm để trang trí lớp học, hành lang, cầu thang và các khu chơi ngoài trời.

- Giáo viên luôn quan tâm đến trẻ mọi lúc mọi nơi, luôn tạo điều kiện cho trẻ thể hiện cảm xúc của mình qua các góc chơi: bé trực nhật, cảm xúc của bé, bé thích màu gì, bé thích học gì, hoạt động ngoài trời, khám phá thiên nhiên- khoa học,...

d. Đánh giá sự phát triển của trẻ:

- 100% nhóm lớp thực hiện kịp thời việc đánh giá trẻ theo các hoạt động và có đưa ra giải pháp tác động đến trẻ ở các hoạt động sau.

- 100% trẻ được đánh giá sự tiến bộ dựa trên mức độ đạt so với mực tiêu giáo dục. Kết quả hàng năm có 100% trẻ đạt theo các yêu cầu đề ra.

e. Tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm

- 100% CBGV nghiêm túc thực hiện công tác tuyên truyền trong phụ huynh, cộng đồng, trẻ. Tuyên truyền qua họp phụ huynh, qua hội thi lấy trẻ làm trung tâm, qua chuyên đề, hội giảng, bảng tin của trường – lớp, hình ảnh tuyên truyền,...

- Đa dạng các hình thức, hoạt động tuyên truyền tới cộng đồng, cha mẹ trẻ về vị trí, vai trò của giáo dục mầm non và hướng dẫn chăm sóc, giáo dục trẻ tại gia đình, chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1.

- Thực hiện tốt mối quan hệ hợp tác, chia sẻ giữa giáo viên, nhà trường, cha mẹ trẻ và cộng đồng trong chăm sóc, giáo dục trẻ.

- Thực hiện kịp thời việc phối hợp, trao đổi thông tin của trẻ với phụ huynh trong công tác CSGD trẻ. Có trên 90% phụ huynh nhiệt tình hưởng ứng.

8. Tổ chức tổng kết 5 năm thực hiện chuyên đề

- Hàng năm, nhà trường thực hiện sơ kết, đánh giá rút kinh nghiệm và định hướng cho các năm tiếp theo. Khen thưởng, biểu dương những cá nhân tiêu biểu hàng năm như:

+ Cô Nguyễn Thị Út Mười, cô Nguyễn Thị Mộng Kha, cô Nguyễn Thị Khả Thy: có nhiều sáng tạo trong việc cải tạo môi trường ngoài trời và làm đồ chơi cho trẻ.

+ Cô Lê Thị Thùy Trang, Cô Nguyễn Thị Kiều Diễm, Cô Hồng Thị Ngọc Loan, Cô Trịnh Ngọc Trân, Cô Phạm Thúy Anh: Sáng tạo trong việc xây dựng môi trường trong lớp và bố trí các góc chơi linh hoạt, sáng tạo.

+ Cô Phạm Hoài Nhân, Cô Phạm Thị Tú Trinh, Cô Đặng Ngọc Phương Thanh: Sáng tạo trong việc làm đồ dùng đồ chơi và thiết kế các khu chơi góc chơi hành lang, cầu thang, ngoài trời, vẽ sáng tạo các khu chơi, mãn tường cho trẻ trãi nghiệm khám phá.

+ Cô Phạm Hoài Nhân, cô Nguyễn Thị Kiều Diễm: tham gia dạy hội giảng cấp huyện đạt kết quả cao.

+ Cô Lê Ngọc Thuận, cô Trịnh Thị Hằng Ny, cô Đặng Ngọc Phương Thanh, cô Nguyễn Thị Mộng Kha: tham gia dạy hội giảng thí điểm cấp Tỉnh.

+ Cô Lê Bảo Ngọc, Cô Nguyễn Phong Lan: có nhiều sáng tạo trong tiết học, tổ chức giờ học linh hoạt, sáng tạo.

+ Cô Trần Thị Kim Hồng, cô Trịnh Thị So: tích cực trong việc xây dựng môi trường trong và ngoài lớp, Cô Lê Thị Anh Pha có nhiều sang tạo trong hướng dẫn giáo viên khai thác đồ dùng các góc chơi ngoài trời, sáng tạo trong làm đồ dùng đồ chơi.

+ Cô Nguyễn Thị Thu Trang: tiêu biểu trong việc báo cáo thí điểm thực hiện chuyên đề cấp Tỉnh do huyện đăng cay tại Tân Mỹ và báo cáo điển hình cấp Tỉnh do Sở GD-ĐT tổ chức và được Huyện, Tỉnh tặng giấy khen, năm 2018 được Bộ GD-ĐT tặng Bằng khen về đổi mới sáng tạo trong công tác quản lý.

+ Tập thể nhà trường được phòng GD-ĐT kiểm tra đánh giá tốt hàng năm. Nhà trường duy trì và phát huy môi trường trong và ngoài lớp. Hàng năm, có bổ sung các đồ chơi mới và cải tạo các đồ chơi sẵn có.

II. ĐÁNH GIÁ CHUNG:

1. Kết quả nổi bật:

- Nhà trường tham gia các lớp tập huấn do sở GD-ĐT và Phòng GD-ĐT tổ chức đầy đủ và tổ chức triển khai tập huấn cho 100% CBQL và GVMN của trường; Chọn lớp điểm để thực hiện chuyên đề hàng năm và nhân rộng trong toàn trường thực hiện đạt hiệu quả.

- Hàng năm nhà trường có xây dựng kế hoạch kiểm tra thực hiện chuyên đề cho 100% giáo viên, phân công các phó hiệu trưởng, tổ chuyên môn cùng phối hợp thực hiện công tác kiểm tra, tư vấn, hỗ trợ giáo viên thực hiện tốt chuyên đề theo 5 tiêu chí.

- 100% các lớp bố trí tốt môi trường cho trẻ hoạt động trong và ngoài lớp; phối hợp kịp thời với Ban chấp hành hội cha mẹ trẻ trong việc tổ chức thực hiện chuyên đề; Tổ chức kiểm tra việc thực hiện chuyên đề trong 100% giáo viên;

- Môi trường trong và ngoài lớp được sắp xếp bố trí phù hợp, ngăn nắp, đồ chơi an toàn, phong phú, đảm bảo cho trẻ hoạt động theo quan điểm trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm; Đa số giáo viên có tiết dạy sáng tạo, đạt hiệu quả cao, đảm bảo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm.

- 100% giáo viên thực hiện tốt việc bố trí môi trường trong và ngoài lớp. Thực hiện tốt các tiêu chí theo 5 nội dung của chuyên đề: Xây dựng môi trường vật chất, môi trường xã hội trong và ngoài lớp học; Đổi mới tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ; Đánh giá sự phát triển của trẻ; Tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm.

- Trẻ mạnh dạn tự tin, hứng thú khi tham gia các hoạt động, tự phân vai chơi và có ý thức trong việc sắp xếp đồ dùng đồ chơi, sản phẩm trẻ tạo ra để trang trí lớp học chiếm trên 80%.

- Tham gia học tập đầy đủ các buổi hội giảng cấp Tỉnh, huyện, cụm. Tổ chức thành công các hội thi tại trường và tham gia đạt kết quả các hội thi cấp huyện, tỉnh như: hội thi “Cô năng động- Bé tài năng”, hội thi “ Bé khỏe- Bé khéo tay”, hội thi “liên hoan tiếng hát dân ca”, hội thi “Xây dựng môi trường lấy trẻ làm trung tâm”.

- Tổ chức thí điểm cấp tỉnh thành công và nhân rộng cho các huyện cùng tham dự: Vũng Liêm, Tam Bình, Mang Thít và các trường trong toàn huyện.

- 100% CBGV nghiêm túc thực hiện công tác tuyên truyền trong phụ huynh, cộng đồng, trẻ. Tuyên truyền qua họp phụ huynh, qua hội thi lấy trẻ làm trung tâm, qua chuyên đề, hội giảng,... Phụ huynh có sự chuyển biến rõ nét về nhận thức, không chỉ hiểu hơn về việc cần thiết tổ chức cho trẻ hoạt động ngoài trời, nhiều phụ huynh tích cực ủng hộ các nguyên vật liệu, ngày công để cùng giáo viên làm đồ chơi vận động cho trẻ. Trong các ngày hội ngày lễ khi được mời tham gia chơi cùng trẻ phụ huynh rất hào hứng không còn e ngại như trước.

2. Khó khăn, hạn chế

- Một số giáo viên chưa linh hoạt thay đổi hình thức tổ chức, chưa mạnh dạn khai thác trẻ, giáo viên mới ra trường thiếu kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, chưa phát huy hết khả năng sáng tạo của trẻ. Việc tổ chức các hoạt động giáo dục còn gò bó, giáo viên chưa mạnh dạn thay đổi hình thức tổ chức, việc xây dựng kế hoạch chưa hiệu quả, chưa tập trung sâu vào lấy trẻ làm trung tâm;

- Giáo viên mới ra trường, ngại đổi mới, thiếu kinh nghiệm trong tổ chức hoạt động, còn gò bó trẻ theo khuôn khổ, chưa phát huy sự sáng tạo thích thú của trẻ qua việc “học bằng chơi, chơi bằng học”;

- Công tác tuyên truyền phối hợp, tạo sự thống nhất giữa nhà trường, gia đình và xã hội cùng quan tâm xây dựng trường mầm non lấy trẻ làm trung tâm chưa thật sự quan tâm đồng bộ.

- Các buổi tham gia tập huấn, bồi dưỡng: Vẫn còn 1 vài giáo viên chưa mạnh dạn trao đổi, chưa phát tính tích cực khi tham gia tập huấn. Việc tổ chức thực hành trong các buổi tập huấn còn ít;

III. ĐỀ XUẤT PHƯƠNG HƯỚNG:

1. Đối với phòng GDĐT

- Tổ chức khen thưởng cá nhân, tập thể tiêu biểu trong việc thực hiện chuyên đề nhằm tạo động lực giúp cho cá nhân, nhà trường phát huy hơn nữa và nhằm duy trì tốt chuyên đề ở những năm tiếp theo

- Định hướng cho các trường những nội dung cần duy trì và phát huy sau khi kết thúc chuyên đề.

- Trang cấp thêm một số thiết bị cho trường hoạt động: máy chiếu, đồ chơi liên hoàn, thảm cỏ, thiết bị đồ dùng theo Thông tư 02/TT-BGDĐT cho các lớp.

2. Đối với sở GDĐT

- Tiếp tục tổ chức các lớp bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ cốt cán nhằm duy trì tốt chuyên đề.

- Cẩn tổ chức cho các trường được giao lưu, tham quan học tập một số mô hình tiêu biểu sau 5 năm thực hiện chuyên đề trong và ngoài tỉnh.

 

Trên đây là báo cáo thực hiện các chuyên đề giáo dục mầm non của trường mầm non Tích Thiện giai đoạn 2016-2020./.

 

Nơi nhận: HIỆU TRƯỞNG

- Sở GDĐT (Phòng GDMN);

- Phòng GD-ĐT;

- CBGV;

  • Lưu: VT.

 

 

Nguyễn Thị Thu Trang